Mọi Rợ Là Gì

  -  

(TNTS) Bởi không hiểu kiến thức địa lý nhiều nên người Trung Quốc ngày xưa tin rằng nước của họ nằm giữa các nước khác. Họ cũng tin rằng nước của họ là tốt đẹp nhất. Họ nghĩ rằng vùng bình nguyên mà các cư dân Hán tộc ở là bình nguyên giữa các bình nguyên nên tự gọi miền đất ấy là Trung Nguyên hoặc Trung Thổ.

Bạn đang xem: Mọi rợ là gì


*

Dân tộc nào cũng có niềm tự hào riêng về dân tộc, đất nước mình. Chuyện họ tự gọi nước họ thế nào thì chúng ta không bàn tới. Cái mà chúng ta bàn ở đây là ngoài dân tộc sống trên đất nước mình ra, người Trung Quốc ngày xưa coi các dân tộc ở bốn phương đều là loài mọi rợ. Vì vậy mà khái niệm tứ di - bốn loài mọi rợ, ra đời. Khái niệm này có từ thời Tiên - Tần nghĩa là có trước năm -221.

Phía tây nước Trung Quốc có các dân tộc Tây Tạng (Tibet), Lâu Lan (Lobner), Thổ Lỗ Phồn (Tourfan), Đại Uyển (Fergana), Sa Đà (Yarkhand), Đại Nhục Chi (Indo - Scythe), Ô Tôn (Sogoliane), Khang Cư (Boukhara - nay thuộc Turkestan). Phía tây nam và nam Trung Quốc có Thiện Thiện (Shan Shan - còn đọc âm Thợn Thợn), Điền (Bài Dy, thuộc Vân Nam), Dạ Lang (Quý Châu), Nam Man (Việt Nam). Phía tây bắc Trung Quốc có Tây Hạ. Phía Bắc Trung Quốc có Mông Cổ (Mongolie), Khiết Đan (Kitan), Nga La Tư (Russie). Phía đông bắc Trung Quốc có Mãn Châu (Manchourie), Cao Ly (Triều Tiên - Korée). Phía đông Trung Quốc là vùng bờ biển. Các nước Yên (vùng Hồ Bắc), Tề (vùng Sơn Đông), Sở (Bắc Chiết Giang), Ngô (Triết Nam), Việt (Quảng Đông cũ) trong thời Chiến quốc thảy đều diệt vong, trở thành Hán tộc hết ráo.

*

Khi Lưu Bang mở ra nhà Hán (207 trước Công lịch), khái niệm Hán tộc ra đời. Ngoài Hán tộc ra, người còn lại đều là man di mọi rợ. Họ gọi người các nước lân cận bằng nhiều cái tên khác nhau: Hồ, Lỗ, Di, Địch, Khương, Hung Nô, Nhung, Man… Và không hiểu làm sao mà người Hán tộc căm thù tứ di đến nỗi thi ca vẫn mang tính sắt máu:

Tráng chí cơ xang Hồ Lỗ nhục. Tiếu đàm khát ẩm Hung Nô huyết. (Chí mạnh, ăn luôn thịt Lỗ Hồ Nói cười khan, uống máu Hung Nô).

Kim Dung - tiểu thuyết gia hiện đại, là một người Trung Quốc. Ông cũng không thoát ra khỏi cái quan điểm coi các dân tộc lân bang là man di mọi rợ.

Trong tiểu thuyết của ông, có chiêu kiếm Tứ di tân phục (Bốn rợ đều hàng) được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đây là chiêu kiếm đánh ra bốn hướng khiến người ta phải cúi mình xuống (phục) để khỏi bị thương. Mà tại sao lại là Tứ di chứ không phải tứ phương, tứ nhân, tứ tượng?

Dưới mắt nhìn của ông, con người trong tứ di rất kém cỏi. Trong Ỷ thiên đồ long ký, bọn Ngũ Phụng đao muốn trả thù phái Võ Đang. Họ rước một danh thủ điểm huyệt người Triều Tiên là Tuyền Kiếm Nam qua. Thế nhưng, chỉ cần một đệ tử thứ năm của phái Võ Đang là Trương Thúy Sơn ra tay, danh thủ này đã thua ngay chiêu đầu tiên, bỏ chiến trường mà chạy dài. Trong Lộc Đỉnh ký, đám cao thủ lạt ma Tây Tạng xuống vây thầy của Vi Tiểu Bảo là Cửu Nạn sư thái. Ấy vậy mà đám cao thủ này lần lượt bị gã mạt hạng giang hồ Vi Tiểu Bảo hạ sát hết ráo bằng cách đâm trủy thủ xuyên qua vách ván. Trong Xạ điêu anh hùng truyện, bọn thần tiễn xứ Mông Cổ như Đà Lôi, Triết Biệt có tài bắn tên bách bộ xuyên tâm. Nhưng khi gặp cao thủ Trung Nguyên, tài năng của họ chỉ là trò chơi trẻ con.

Cũng trong cái nhìn của Kim Dung, cái gì do tứ di làm ra, xây dựng nên cũng đều là thứ hủ lậu, thô thiển. Vi Tiểu Bảo sang tới Nga La Tư, nhìn khung cảnh Mạc Tư Khoa (Moscow), chê kinh thành Mạc Tư Khoa hủ lậu.

Xem thêm: Tải Trò Chơi Chiến Cơ Huyền Thoại Cho Android Và Ios, Chiến Cơ Huyền Thoại Trung Quốc



Xem thêm: Cách Mua Gem Trong Clash Of Clans Bang The Visa, Dùng Thẻ Visa Mua Gem Trong Clash Of Clans

Khung cảnh kinh thành đã “hủ lậu” như thế thì tất nhiên đồ ăn thức uống lại càng thô thiển. Người Nga chỉ biết làm một món Hà thư ni khắc (thịt nướng xiên) đơn điệu. Cho nên khi những hàng binh Nga ra đầu hàng được quân binh nhà Thanh thết đãi rượu thịt, họ cứ tấm tắc khen rượu Trung Quốc ngon, món ăn Trung Quốc tuyệt vời.


Tôi không hiểu làm sao mà ông Kim Dung phong chiếc bánh chưng ở Hồ Châu (Chiết Giang) lên hàng chí bảo: Bánh chưng, bút lông điêu, mực tàu làm ở Hồ Châu được phong tặng là Hồ Châu tam bảo. Tôi tin rằng chất lượng bánh chưng ấy không thể ngon hơn chiếc bánh chưng mà bà con gốc Bắc ở thành phố tôi gói hằng năm vào dịp tết cổ truyền.

Những nhân vật tứ di trong tác phẩm Kim Dung phần lớn được xây dựng làm tuyến nhân vật phản diện, sai trái, bậy bạ. Kiều Phong làm tới bang chúa Cái bang Trung Quốc, khi bị hiểu ra là người Khiết Đan, đã bị gắn cho cái nhãn “quân Liêu cẩu” giết thầy, giết cha mẹ nuôi, giết anh hùng hào kiệt Trung Quốc. Huyết Đao lão tổ từ Tây Tạng xuống chưa hề hãm hiếp một cô gái nào, đã bị chửi cả trăm tiếng “dâm tặc”, bị bốn cao thủ họ Lạc, Hoa, Lưu, Thủy rượt đuổi để tiêu diệt. Ba La Tinh và Triết La Tinh từ Ấn Độ sang bị coi là kẻ trộm cắp võ kinh của chùa Thiếu Lâm.

Con người của tứ di chỉ là một loại cỏ đuôi chó, rất dễ bị mua chuộc làm tay sai, miễn là có mồi để nhử họ. Với người Nga, Vi Tiểu Bảo đem rượu thịt ra làm mồi. Với Tang Kết - đại lạt ma của Tây Tạng, Khang Hy hứa sẽ phong cho thêm tước hiệu Tang Kết hoạt Phật. Vốn nước Tây Tạng đã có Đạt Lai hoạt Phật, Ban Thiền hoạt Phật. Khang Hy phong thêm Tang Kết hoạt Phật là để có thêm một vị làm thế “chân vạc với hai vị kia để triều Thanh dễ lung lạc chính sự Tây Tạng. Đối với Cát Nhĩ Đan - vương tử Mông Cổ, Khang Hy thuận phong cho tước chuẩn Cát Nhĩ Hàn. Nguyên Mông Cổ đã có một Khả Hàn làm vua. Phong Cát Nhĩ Đan làm chuẩn Cát Nhĩ Hàn có nghĩa là Khang Hy hứa hẹn Cát Nhĩ Đan sẽ lên làm vua Mông Cổ. Đó chỉ là đòn phép phá rối tình trạng chính trị của các phiên bang (nước phên giậu) mà Khang Hy chẳng tốn kém gì ngoài một tước phong!

Nhưng điều tôi cho là yếu nhất trong tác phẩm Kim Dung là tư duy chủ nghĩa Đại Hán của ông quá đỗi nặng nề. Ông đã tỏ ra coi thường con người của tứ di đến nỗi nhiều khi ông nhục mạ phẩm giá làm người của họ.

Một là trận đánh nhau giữa Vi Tiểu Bảo - tư lệnh quân Thanh với tướng A Lịch Tư Đồ Nhĩ Bố Thanh (Alexei Tolbusin), tư lệnh quân Nga ở thành Nhã Tát Khắc (Nertohinsk) bên bờ Hắc Long Giang (Amour). Vi Tiểu Bảo dụ cho Đồ Nhĩ Bố Thanh rượt sâu vào hẻm núi rồi lăn đá xuống chặn đường và bắn giết quân Nga. Quân Nga xin đầu hàng. Mặc dù trời giá rét, Vi Tiểu Bảo vẫn ra lệnh quân Nga phải cởi truồng mới được đầu hàng. Bọn quân lính Nga chịu cởi truồng nhưng Đồ Nhĩ Bố Thanh thì quyết chiến đấu. Vi Tiểu Bảo mớm ý cho quân Nga phải lột truồng Đồ Nhĩ Bố Thanh. Bọn lính sợ chết, cứ đè tư lệnh xuống mà cởi truồng ra. Vi Tiểu Bảo cho người dong ngựa dắt Đồ Nhĩ Bố Thanh đi ba vòng quanh thành Nhã Tát Khắc cho Đồ Nhĩ Bố Thanh nếm đủ mùi nhục nhã rồi mới thả cho viên tư lệnh này về.

Hai là trận đánh của Vi Tiểu Bảo chiếm thành Nhã Tát Khắc. Vi Tiểu Bảo nổi thói lưu manh, trễ quần đái vào chảo nước và sai Thanh binh bắn nước ấy lên thành người Nga. Nước bắn vào thành gặp hơi lạnh, đông lại thành băng. Hắn còn ra lệnh cho tất cả bọn tướng sĩ dưới trướng cùng đái vào để bắn lên thành. Điều đáng tiếc là ông Kim Dung viết chương này tỏ ra rất đắc chí. Ông gọi chương này là Niệu xạ Lộc Đỉnh Sơn - bắn nước tiểu lên núi Lộc Đỉnh. Liệu thời đại văn minh của chúng ta có cho phép một dân tộc này coi thường một dân tộc khác qua hành động đi đái và bắn nước đái ấy lên đầu, lên cổ của họ?