Tiểu thuyết chương hồi là gì

  -  

Bài viết nghiên cứu những quan niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết chương hồi - những sáng tác văn xuôi chữ Hán của Việt Nam theo mô hình tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, văn học Việt Nam trung đại đã có hệ thống tác phẩm văn xuôi hội đủ các yếu tố của tiểu thuyết chương hồi.Bạn đang xem: Tiểu thuyết chương hồi là gì




Bạn đang xem: Tiểu thuyết chương hồi là gì

*

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 NHỮNG QUAN NIỆM VỀ TIỂU THUYẾT VÀ TIỂU THUYẾT CHƢƠNG HỒI Ở VIỆT NAM Vũ Thanh Hà1, Nguyễn Thị Mỹ Dung2 TÓM TẮT Bài viết nghiên cứu những quan niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết chương hồi -những sáng tác văn xuôi chữ Hán của Việt Nam theo mô hình tiểu thuyết chương hồiTrung Quốc. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, văn học Việt Nam trung đại đã có hệthống tác phẩm văn xuôi hội đủ các yếu tố của tiểu thuyết chương hồi. Từ khóa: Tiểu thuyết, tiểu thuyết chương hồi 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về tiểu thuyết được đưa ra, mỗi địnhnghĩa đều có những nội dung đúng đắn, hợp lý nhưng không định nghĩa nào đạt đượcsự thống nhất tuyệt đối. Những nhà lý luận và sáng tác trên thế giới như M. Bakhtin ởNga, Lucas ở Hungari cũng đã từng đưa ra những định nghĩa về tiểu thuyết. Tại ViệtNam, đặc biệt là những nhà văn sáng tác tiểu thuyết, từ những năm cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX, cũng ít nhiều đưa ra những lời giới thuyết về tiểu thuyết, ít nhất là vềsáng tác của mình. Trong số đó, có thể kể đến Nguyễn Trọng Quản (1886), TrươngDuy Toản (1910), Trần Thiện Trung (1910), Hồ Biểu Chánh, Phạm Quỳnh, Đặng TrầnPhất, Bùi Xuân Ngọc, Trọng Khiêm, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Thiếu Sơn, NhấtLinh, Khái Hưng, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan, Đinh GiaTrinh, Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn HuyTưởng, v.v… Những người này đều có những ý kiến phát biểu mang tính cảm nhậnhoặc đánh giá về thể loại tiểu thuyết, nhưng cũng như các nhà lý luận hoặc sáng táctrên thế giới, họ đã không đưa ra được một định nghĩa nào đủ sức bao quát được toànbộ tính chất của thể loại tiểu thuyết. 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1. Tiểu thuyết và những quan niệm về tiểu thuyết1 TS. Giảng viên Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức.2 ThS. Giảng viên Khoa Ngữ Văn, Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An. 20 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 Thuật ngữ Tiểu thuyết (tiếng Hán: 小說, tiếng Pháp: Roman, tiếng Anh: novel,fiction) đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Tiểu thuyết được hiểu là “tác phẩm tự sự cỡlớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian.Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạođức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”(1).Theo Từ điển văn học (Bộ mới), mục từ Tiểu thuyết xác định: “Thuật ngữ chỉ tác phẩm tựsự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thànhvà phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời giannghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách”(2). Những định nghĩa trênlà cách hiểu về thể loại tiểu thuyết hiện đại, có nguồn gốc từ phương Tây mà ngày nayrất phổ biến. Nhưng với những người quan tâm đến văn học cổ trung đại, đặc biệt là văn họcViệt Nam hay văn học Trung Quốc thì định nghĩa về tiểu thuyết như trên chưa bao quátđược những vấn đề liên quan đến thể loại này. Quan niệm như thế nào là tiểu thuyếttrong hệ thống thể loại văn học trung đại vẫn còn khá phức tạp và chưa có hồi kết. Thuật ngữ tiểu thuyết chúng ta đang dùng ngày nay vốn lấy từ cách gọi củangười Trung Quốc. Khái niệm tiểu thuyết ngày nay được cả phương Đông lẫn phươngTây dùng để gọi một thể loại văn học đang thịnh hành và ngày càng tỏ ra chiếm ưu thếtrên văn đàn. Dù lịch sử hình thành và phát triển cũng như ý thức về tiểu thuyết chưathống nhất nhưng vẫn có những ý kiến chung về thể loại này. Trong đó, dựa trên nhữngnhững tiêu chí như: Chất đời tư; chất văn xuôi; chất tâm lý; chất chi tiết trong hệ thốngsự kiện, diễn biến tâm trạng; tính đa thanh trong ngôn ngữ của người trần thuật và cácloại hình nhân vật; tính hiện tồn; đề cao tính chất hư cấu nghệ thuật, coi đây là thao táckhông thể thiếu trong tư duy sáng tạo tiểu thuyết và là một yếu tố quan trọng bộc lộ rõrệt phẩm chất sáng tạo dồi dào của nhà văn. Khi nói chất đời tư là muốn đối lập với sử thi và ngụ ngôn, vì hai thể loại nàyvốn nghiêng về thể hiện cái chung, tiểu thuyết thể hiện khả năng đi sâu khám phá sốphận cá nhân. Khi nói đến chất văn xuôi là muốn phân biệt với truyện thơ, sử ca, hailoại hình vốn thiên về lãng mạn, lý tưởng hóa. Chất tâm lý trong tiểu thuyết là một đặcđiểm khá quan trọng khi muốn nói tới sự khác biệt với sử thi, truyện ký, bởi thể loạinày thiên về hành động. Tiểu thuyết hiện đại chú ý đến tính chi tiết trong hệ thống sựkiện, diễn biến tâm trạng trong khi truyện ngắn, truyện vừa cổ điển chỉ nhấn mạnh đếncốt truyện và những tính cách xác định. Ngày nay, các nhà nghiên cứu vẫn hay nhắcđến tính đa thanh trong tiểu thuyết hiện đại, bởi vì nhiều khi giọng điệu của tác giả vànhân vật thường hòa lẫn vào nhau, khó phân biệt rõ ràng, chưa thoát khỏi kiểu nhân vậtchức năng của tiểu thuyết cổ điển. Tính hiện tồn là một trong những đặc điểm của tiểu 21 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015thuyết hiện đại, khi muốn đối lập với sử thi và truyện cổ tích, những thể loại nàythường kể chuyện của quá khứ, ngày xưa, bắt đầu bằng một công thức mở đầu quenthuộc: Ngày xửa, ngày xưa; ở một khu rừng nọ; một ngày kia,... tiểu thuyết nói chuyệnđang xảy ra, trong quá trình phát triển của thân phận, của tính cách. Một trong nhữngtính chất cơ bản của thể loại tiểu thuyết là tính chất có thể có thực của câu chuyện,những câu chuyện đang xảy ra trong đời sống hiện thực của con người và được nhìnnhận trong sự phát triển. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu văn học hiện đại, đặc điểm tiêu biểu nhấtcủa tiểu thuyết là cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư. Trong tiểu thuyết thời trung đại, cáctác giả cũng đã chú ý đến đời tư của nhân vật. Với tiểu thuyết hiện đại, chất đời tư ngàycàng trở thành tiêu điểm để miêu tả cuộc sống và được xem là một đặc trưng quan trọngcủa tiểu thuyết. Yếu tố đời tư có thể thay đổi theo từng thời kỳ phát triển. Khi nào yếu tốđời tư trở nên đậm đà trong tác phẩm thì tính tiểu thuyết càng tăng, ngược lại, yếu tốlịch sử dân tộc càng phát triển thì chất sử thi càng tăng. Tiểu thuyết khác với truyệnthơ, trường ca, anh hùng ca... chính là ở chất đời tư. Tiểu thuyết không tái hiện cuộcsống một cách thi vị hóa, lãng mạn và lý tưởng hóa, nó miêu tả cuộc sống trong trạngthái hiện tại, đang phát triển với tất cả những phồn tạp, sinh động vốn có. Về nhân vật, tiểu thuyết miêu tả nhân vật trong quá trình phát triển, đang biến đổitrong hoàn cảnh nhất định. Nhân vật của tiểu thuyết là “con người nếm trải”, lý tính, bikịch, mang tất cả những phẩm chất sinh động như cuộc sống. Trong tiểu thuyết, nhân vật ítđược lý tưởng hóa để phục vụ một sự minh họa nào đấy của tác giả. Tiểu thuyết xây dựngnhân vật trong ý nghĩa miêu tả sự chiêm nghiệm của nhân vật về thế giới, cuộc đời, vềchính con người, thiên về khám phá những sự uẩn khúc của nội tâm. Nhiều khi, cách miêutả nhân vật còn dựa trên sự trình bày quá trình diễn biến tâm lý, tiểu sử cá nhân, những mốiquan hệ phức tạp, môi trường sống... Ngoài ra, trong tâm thế của người kể chuyện, tác giảcủa tiểu thuyết nhiều khi hòa lẫn vào nhân vật, không có sự tách bạch rõ ràng, tạo nênnhững khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật. Một trong những đặc điểm quan trọng của tiểu thuyết chính là vai trò của nótrong hệ thống thể loại, tiểu thuyết có khả năng tập hợp quanh mình những thể loại vănhọc khác, tạo nên nhiều kiểu, dạng tiểu thuyết khác nhau như tiểu thuyết tâm lý - trữtình, tiểu thuyết thế sự - trữ tình, tiểu thuyết sử thi - trữ tình... Và tiểu thuyết chính làmột thể loại luôn trẻ, bởi nó vẫn đang vận động và đổi mới hình thức thể hiện. Với vaitrò là thể loại trung tâm của nền văn học, tiểu thuyết luôn trở thành tâm điểm chú ý. Để đi đến một định nghĩa hay một khái niệm tiểu thuyết, cần có nhiều quanđiểm nhìn nhận khác nhau, khách quan và khoa học. Tuy nhiên, vẫn có thể có đượcnhững quan niệm rõ ràng trong nhận thức về thể loại này. Hơn nữa, cần phải dựa trên 22 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015quan điểm lịch sử về thể loại, tránh những nhận thức sai lệch về thể loại tiểu thuyết.Quan niệm về tiểu thuyết đã thay đổi theo thời gian, năng động như chính bản thân thểloại, trẻ trung và ngày càng phát triển theo sự tiến triển của cuộc sống. Khi con ngườicòn có hứng thú kể về những chuyện đã và đang xảy ra, được tưởng tượng ra trong thếgiới nhân loại thì tiểu thuyết vẫn còn cần thiết. Theo M. Bakhtin: “Thể loại chứ khôngphải phương pháp hoặc trường phái sáng tác là những nhân vật chính của tấn kịch lịch sửvăn học. Mỗi một thể loại, nhất là thể loại lớn, thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối vớihiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con người. Thể loại là cáitrí nhớ siêu cá nhân của nghệ thuật, nơi tích lũy, đúc kết những kinh nghiệm nhận thứcthẩm mỹ thế giới”(3). Khi bàn về thể loại tiểu thuyết, M. Bakhtin cho rằng: “Tiểu thuyết là thể loạivăn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình”, “tiểu thuyết khôngđơn thuần chỉ là một thể loại trong nhiều thể loại. Đó là một thể loại nảy sinh vàđược nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế mà thân thuộc sâusắc với thời đại ấy” (4). Trong bài viết Sự tự do của tiểu thuyết - Một khía cạnh thi pháp, Đặng Anh Đàocho rằng, đặc điểm tiêu biểu nhất của tiểu thuyết là dung lượng phản ánh cuộc sống lớn.Thể loại này có khả năng phản ánh những cuộc đấu tranh giai cấp phức tạp, những mốiquan hệ xã hội đan chéo vào nhau trong cốt truyện chia thành nhiều tuyến nhân vật. Nhânvật trong tiểu thuyết cũng được miêu tả tỉ mỉ, tác giả tập trung ghi lại quá trình hình thànhvà phát triển các tính cách nhân vật theo lịch sử những biến cố. Tiểu thuyết là thể loại cókhả năng dung nạp và hòa lẫn trong nó nhiều đặc điểm và biện pháp của các loại hình nghệthuật khác. Với tính chất tổng hợp ấy, tiểu thuyết là thể loại gần gụi với cuộc sống và cóthể phản ánh cuộc sống trong những quá trình phát triển. Căn cứ trên phương diện tính chấtcủa thể loại, Đặng Anh Đào cũng cho rằng: “Dù gọi đó là tính chất “tự do” hay tính chất“động”, hay tính chất “mở”, thì đó cũng chỉ là những cách nói khác nhau về một đặc trưngcủa tiểu thuyết. Tính chất tự do, động, mở được đề cập tới ở đây không phải là vấn đề nộidung của tiểu thuyết, bởi nội dung còn tùy thuộc vào từng cuốn. Đây là nói về một nétthuộc thi pháp của thể loại. Có điều là sự tự do, tính chất động, trạng thái “mở” của tiểuthuyết lại được qui định bởi chính cái khuôn mẫu mà từ thuở khai sinh ra thể loại, nó đã lấyđó làm đối tượng theo đuổi: cuộc sống (...). Tiểu thuyết là cái “giống như thật” nhưng nókhông phải chỉ là “sự thật, sự thật khiêm nhường” như Môpaxăng đã nói. Cái “giống nhưthật”, “giả thiết như có thật” là bản tính của thể loại”(5). Khi đưa ra những quan niệm về tiểu thuyết, tác giả Phương Lựu cho rằng, tiểuthuyết trước hết khác với truyện kí, thể loại chủ yếu viết về người thật việc thật, mặc dùcũng có thành phần hư cấu còn tiểu thuyết tuy cũng có khi viết về người thật việc thật, 23 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015nhưng chủ yếu là hư cấu. Đơn cử Sử kí của Tư Mã Thiên, nhất là những liệt truyện, bảnkỉ,... cũng có sự miêu tả tình tiết, khắc họa nhân vật gần gũi với tiểu thuyết. Đồng thời,tiểu thuyết phải khắc họa cho được tính cách nhân vật. Tính cách nhân vật trong tiểuthuyết không phải định hình, cũng không đọng lại ở loại hình, mà phải mang cá tính sắcnét. Tính cách nhân vật phải mới, không trùng lặp. Tiểu thuyết khác với văn tự sự nóichung, thể loại này rất coi trọng thành phần miêu tả. Kim Thánh Thán cho rằng, ở tiểuthuyết “văn trung hữu họa”, “đâu chỉ theo lối tự sự có sao nói thế mà thôi, ngòi bút phảivẫy vùng ngang dọc”(6). Tiểu thuyết được xây dựng trong mối quan hệ của nhiều nhânvật và sự kiện, cho nên kết cấu của nó rất tinh vi và phức tạp, “có khởi ra kết lại, có gọiđến thưa ngay, có mở ra lại đóng vào”. Tiểu thuyết được viết ra, thì mỗi bộ phận khôngphải là những phần biệt lập, mà được xác định trong mối tương quan với các bộ phậnhữu quan. Bàn về quan niệm tiểu thuyết, các học giả Việt Nam cũng đã từng đưa ra nhiều ýkiến khác nhau. Ngay từ những ngày đầu thế kỷ XX, những học giả Việt Nam cũng đã bắtđầu có những ý kiến về thể loại tiểu thuyết hiện đại. Tiêu biểu trong số đó có Phạm Quỳnh.Ông cho rằng: Xét lịch sử, lối tiểu thuyết có đã lâu: ở nước Tàu thì thịnh hành từ đời nhàNguyên; ở nước Pháp thì phôi thai từ thế kỷ thứ XIII, XIV; nhưng thành thể tài như ngàynay là mới bắt đầu từ thế kỷ XIX, nghĩa là trong khoảng hơn 100 năm nay. Cho nên cácsách lịch sử văn học Âu châu đều nói rằng “thế kỷ thứ XIX là thế kỷ tiểu thuyết”(7). Như vậy, chữ “tiểu thuyết” không phải bắt nguồn từ phương Tây, nó đã đượcsử dụng ở Trung Quốc từ rất sớm nhưng đặc trưng thể loại lại chưa được các họcgiả Trung Quốc khái quát thành lý thuyết sáng tác, thậm chí không biết xếp nhữngsáng tác này vào thể loại nào. Khi nhận định về những đặc trưng của thể loại, PhạmQuỳnh cho rằng: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tựngười ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạ tích kỳ, đủ làm cho người đọc cóhứng thú”(8). Theo cách hiểu của Phạm Quỳnh thì phạm vi của tiểu thuyết rộng lắm,phàm sách gì không phải là sách dạy học, sách lý luận, sách khảo cứu, sách thi ca,đều là tiểu thuyết cả, mà tiểu thuyết có khi lại gồm tất cả các loại kia. Xét cấu trúccủa một bộ tiểu thuyết, thấy có chỗ là nghị luận, chỗ khảo cứu, chỗ ngâm vịnh, chỗkhuyên răn. Phạm Quỳnh cho rằng: “Cứ nghĩa hai chữ “tiểu thuyết” trong sách Tàuthời lại rộng lắm nữa: Phàm sách gì không phải là sách “chính thư‟ (nghĩa là sáchđể học, như kinh, truyện, sử vân vân), đều là tiểu thuyết cả, nhưng tiểu thuyết đâytức là tạp thuyết, có khác với nghĩa tiểu thuyết như bây giờ” (9). Để đi đến một cách hiểu về đặc trưng thể loại, Trần Nghĩa cho rằng, tiểu thuyếtlà một thể loại văn học lớn mà đặc trưng cơ bản là thông qua việc miêu tả tình tiết câuchuyện và hoàn cảnh cụ thể để khắc họa tính cách nhân vật, nhằm phản ánh cuộc sống 24 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015muôn màu muôn vẻ. So với các thể loại văn học khác, thế mạnh của tiểu thuyết là ởchỗ bút pháp thường linh hoạt, đa dạng và không bị hạn chế bởi không gian, thời gian.Nhưng đây là cách hiểu của chúng ta ngày nay trên cơ sở lý thuyết về tiểu thuyết củaphương Tây. Còn trước kia, đặc biệt ở cái thuở ban đầu của nó, tiểu thuyết là một cái gìrất khó nắm bắt. Trong danh mục tiểu thuyết do Ban Cố xác lập cách đây 2000 năm thìtiểu thuyết không giống những gì người ngày nay quan niệm. Trong thiên Nghệ văn chísách Hán thư, ông đã đưa vào diện “tiểu thuyết” 15 tác phẩm mà với con mắt phân loạihọc hiện đại, trong số đó quá nửa không thuộc lĩnh vực văn học. Nhận định về 15 tácphẩm này, ông cho rằng, dòng tiểu thuyết gia có lẽ xuất xứ từ đám bại quan (稗 官 -chức quan nhỏ) với những câu chuyện ngồi lê đôi mách nơi đầu đường xó chợ (bạithuyết - 稗 說). Theo Lỗ Tấn: “Dựa vào cách viện dẫn của Ban Cố ta thấy ông đã đặttiểu thuyết vào khoảng giữa của Tử (nhà truyền bá một chủ thuyết) và Sử (nhà biênsoạn về lịch sử). Nó gần với Tử nhưng không viết nên những tư tưởng sâu sắc, nó gầnvới Sử nhưng không viết sách đào sâu về lịch sử”(10). Theo quan niệm của Khổng Tử:“Tuy là đạo nhỏ, vẫn có mặt khả quan. Nhưng để vươn tới tầm xa thì e bất cập, nênngười quân tử không làm”(11). Mặc dù thế, tiểu thuyết vẫn ngày một phát triển. Nhữngngười có chút hiểu biết ở thôn dã mỗi khi gặp loại này thường ghi chép lại cho thànhbài để khỏi quên. Như vậy, tiểu thuyết không phải là cái được phân loại, mà là vì khôngphân loại được nên mới thành tiểu thuyết. Trong mục Tiểu thuyết gia, Ban Cố đề cậpđến nhiều mặt như tác giả của tiểu thuyết, nội dung của tiểu thuyết, giá trị của tiểuthuyết, sức sống của tiểu thuyết, nhưng cái mà chúng ta trông chờ, tức đặc trưng củathể loại tiểu thuyết thì ông lại chưa hề chú ý tới. Và trớ trêu thay, cách nhìn còn nhiềumơ hồ về tiểu thuyết của Ban Cố trên đây lại ảnh hưởng đến sự phát triển và nghiêncứu thể loại văn học này ở nhiều nước phương Đông về sau, ít ra là trong suốt cả thờiCổ đại và Trung đại. Trong phần Giới thiệu sách Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Trần Nghĩacho rằng, trước khi đạt tới gương mặt tách bạch như ngày nay, chính tiểu thuyết chứkhông phải nhà sáng tác hay nghiên cứu, đã phải mày mò tự vạch cho mình một conđường sống và phát triển bên cạnh các thể loại văn học khác, các ngành học thuật khác.Khi quan niệm về tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết cổ, ta không thể đòi hỏi như đốivới tiểu thuyết hiện đại. Huống hồ như có người nói: “Tuy cùng gọi là tiểu thuyết cả,nhưng sự khác biệt trong quan niệm về tiểu thuyết xưa nay vốn khác nhau một trời mộtvực”. Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam hình thành trong quá trình tự phân biệt mình vớichính sử, điều này không phụ thuộc vào việc tác giả hay nhà nghiên cứu hồi bấy giờ cóý thức được điều đó hay không. Ngay từ đầu, tiểu thuyết đã được xây dựng trên tinhthần là một sự bổ sung cho chính sử. 25 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 Trong sách Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc, theo Lỗ Tấn, tên gọi tiểu thuyết,xưa thấy trong câu của Trang Chu nói rằng: Trau dồi tiểu thuyết để cầu cạnh viên quanhuyện (Thiên Ngoại vật, sách Trang Tử), nhưng xét đúng thực tế thì danh từ đó là chỉnhững lời nói vụn vặt, tầm thường, không phải có đạo lý gì ở trong, cùng với danh từtiểu thuyết dùng về sau vốn không đồng nghĩa. Hoàn Đàm nói: “Nhà tiểu thuyết gomgóp những câu nói vụn vặt, những mẩu chuyện vụn vặt, lấy thí dụ để làm ra cuốn sáchngắn, gọn, tuy vậy cũng có thể lấy đó để răn mình, sắp xếp việc nhà”(12). Cùng quan điểm với Trang tử, thiên “Từ trường” sách Luận ngữ gọi tiểu thuyếtlà “Lối hẹp” (tiểu đạo), thiên “Chính danh” của Tuân tử (318, 238 tr CN) coi nó là “Lờitrau truốt của hạng tác gia nhỏ” (tiểu gia trân thuyết). Sách Sử thông của Lưu Tri Cơđời Đường (thế kỷ VII-X) chia tiểu thuyết ra thành mười loại: biên soạn, ghi chép, dãsử, truyện tản mạn, sử địa phương, sử gia tộc, các truyện kể, tạp ký, sách địa lý, bộ tịchđịa phương. Trong sách Thiếu thất sơn phòng bút tùng của Hồ Ứng Lân đời Minh (thếkỷ XV-XVII) lại chia tiểu thuyết ra làm sáu loại: truyện thần quái, truyện ly kỳ, tạp lục,truyện đàm luận, truyện biện bác, sách răn dạy. Với một cách chia khác, sách Tứ khốtoàn thư của đời nhà Thanh (thế kỷ XVII-XX) xếp các tiểu thuyết gia vào ba loại: vềtạp sự, về chuyện lạ, về chuyện vặt. Ngoài ra, trong nhiều tài liệu khác còn thấy dùng các cách gọi như: Tiểu ngữ,tiểu ký, đoản thư, tỳ sử, kỳ văn, tiên quái, truyền kỳ, bình thoại, giảng sử... và cho rằngđó là những câu chuyện không quan trọng. Theo Jeon Hyae Kyeong, ở Hàn Quốc lầnđầu tiên Lee Kyu - bo dùng chữ tiểu thuyết là trong Bạch vân tiểu thuyết vào thế kỷXIII. Nhìn chung, thể loại này cùng với các loại thi thoại, sử thoại, nhật ký, hài hước,tạp thuyết...

Xem thêm: Ngành Quản Trị Kinh Doanh Học Quản Trị Kinh Doanh Tổng Hợp Ra Làm Gì ?



Xem thêm: Tổng Hợp Các Cách Kiếm Vàng Trong Ngọc Rồng Online Từ A, Thủ Thuật Ngọc Rồng Online Cho Ae Mới Chơi

kể cả thể loại tỳ quan văn học, từ thuyết, tỳ sử, tùy bút... đều đã bị coi là vôbổ, không phải là “quân tử tu đạo chi văn” (thứ văn mà người quân tử dùng để làm sángdanh đạo)... Trong khi đó, ở Trung Quốc, từ thời đại Tiên Tần cho đến thời Ngụy - Tấn,Nam - Bắc triều, người ta đều coi tiểu thuyết là những thứ chuyện nhỏ nhặt ngoàiđường, ngoài phố “đạo thính đồ thuyết”. Quan điểm này trùng với nhận định của cáchọc giả Trung Quốc cổ đại khi phân loại những sáng tác của tiền nhân. Về lịch sử rađời của tiểu thuyết, cho đến nay vẫn chưa xác định được một mốc cụ thể. Chỉ biết rằng,cho đến thời Đường - Tống, khi thương nghiệp đã phát đạt, ý thức thị dân bắt đầu địnhhình, xuất hiện nhiều tác giả truyền kỳ cùng những người kể chuyện và văn học thôngtục được lưu hành thì tiểu thuyết đã giành được vị trí là một hình thức văn học nhằmvào đối tượng dân chúng. Đời nhà Tống, nghệ thuật kể chuyện rất phát triển; và tiểuthuyết rất có ảnh hưởng đến nghệ thuật kể chuyện. Vì nó có sức hấp dẫn nên tiểu thuyếtdùng để chỉ các nhà kể chuyện (thuyết thoại nhân) rồi về sau được dùng chỉ tiểu thuyếtbạch thoại, là thể loại vốn do nghệ thuật kể chuyện sản sinh ra. Vào thời nhà Minh, tiểu 26 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015thuyết đã được thừa nhận có giá trị thực dụng là giáo hóa. Thời nhà Thanh, tiểu thuyếtđược coi là một hình thức văn học quan trọng thúc đẩy cuộc duy tân cách mạng.Khi bàn về khái niệm tiểu thuyết được sử dụng ở phương Đông, cụ thể là ở TrungQuốc, nhà nghiên cứu I. X. Lixêvích cho rằng: “Hướng tới tiểu thuyết, thuật ngữ TrungQuốc cuối cùng mà chúng tôi sẽ nói trong chương này - độc giả sẽ đi vào một lĩnh vựcvăn học bị khinh rẻ, nằm ngoài giới hạn của ngôn từ văn học là văn. Các tác phẩm tiểuthuyết dường như nằm ngoài phạm vi hoa văn ngôn từ của thế giới - không phải ngẫunhiên mà thành tố đầu tiên của thuật ngữ là chữ tiểu - nghĩa là bé mọn, không quantrọng, không đáng kể”(13). Từ nhận định trên cho thấy, tiểu thuyết không phải là một thể loại văn học đượctôn trọng ở Trung Quốc trong buổi bình minh của thể loại này. Nguyên nhân của thái độcoi rẻ tiểu thuyết cũng đã được đề cập đến, trong đó có ý kiến của Phương Lựu. Ôngcho rằng, tiểu thuyết Trung Quốc có mầm mống từ những tác phẩm ngụ ngôn và sửtruyện thời Tiên Tần - Lưỡng Hán, truyện chí nhân chí quái thời Ngụy Tấn - Nam Bắctriều, truyền kỳ đời Đường, thoại bản đời Nguyên. Và đến đời Minh đã xuất hiện nhữngbộ tiểu thuyết lớn như Tam Quốc, Thủy hử, Tây du ký, Kim Bình Mai, Phong thần,...Tiểu thuyết mặc dù bị tầng lớp thượng lưu trong xã hội coi rẻ nhưng lại có yêu cầu rấtcao đối với tác giả của thể loại này. Trong đó, yêu cầu người viết tiểu thuyết phải cókiến thức rộng rãi, phải đọc thật nhiều tác phẩm sử học, văn học, nắm vững các biến cốcủa các triều đại, các truyền thuyết dân gian, dật sự về các nhân vật, đọc thông hết cácsách tập hợp những chí quái, truyền kỳ, thế thái nhân tình... và phải là người có khảnăng kể chuyện “làu làu, vanh vách”. Bàn về quan niệm tiểu thuyết, các học giả Việt Nam cũng đã từng đưa ranhiều ý kiến khác nhau. Ngay từ những ngày đầu thế kỷ XX, những học giả ViệtNam cũng đã bắt đầu có những ý kiến về thể loại tiểu thuyết hiện đại. Tiêu biểutrong số đó có Phạm Quỳnh. Ông cho rằng: Xét lịch sử, lối tiểu thuyết có đã lâu: ởnước Tàu thì thịnh hành từ đời nhà Nguyên; ở nước Pháp thì phôi thai từ thế kỷ thứXIII, XIV; nhưng thành thể tài như ngày nay là mới bắt đầu từ thế kỷ XIX, nghĩa làtrong khoảng hơn 100 năm nay. Cho nên các sách lịch sử văn học Âu châu đều nóirằng “thế kỷ thứ XIX là thế kỷ tiểu thuyết” (7). Theo Phương Lựu: “Nhưng hoàn toàn khác với thơ, trước đó chưa có lý luận gìđáng kể về tiểu thuyết. Nguyên nhân một phần có lẽ ở chỗ theo quan niệm Nho giatruyền thống, chỉ có thơ, từ, phú mới là chính thống, còn như kịch, tiểu thuyết chỉ là “tàthống”, “không được xem như văn học” (Lỗ Tấn), các văn nhân học giả, do đó khôngdụng công bàn đến”(14). Theo thống kê trong sách Văn sử triết bách khoa từ điển, Cao Thanh Hải (Chủbiên), (Đại học Cát Lâm - Trung Quốc, xuất bản năm 1998) thì có tới 14 loại tiểu 27 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015thuyết, bao gồm: Tiểu tiểu thuyết, Lịch sử tiểu thuyết, Nhật ký thể tiểu thuyết, Trườngthiên tiểu thuyết, Văn ngôn tiểu thuyết, Thư tín tiểu thuyết, Cổ kim tiểu thuyết, Tựtruyện thể tiểu thuyết, Tư tiểu thuyết, Võ hiệp tiểu thuyết, Thi thể tiểu thuyết, Tụ chântiểu thuyết, Chương hồi tiểu thuyết, Đoản thiên tiểu thuyết. Theo đó, đáng chú ý nhất làChương hồi tiểu thuyết, một dạng của trường thiên tiểu thuyết. Đây là thể loại có nguồngốc từ thoại bản và mang những đặc điểm của tiểu thuyết trường thiên. Ngoài ra, loạitiểu thuyết này còn có những đặc điểm riêng như: Phải căn cứ vào những truyện cũ từtình tiết đến sự phát triển của những mâu thuẫn, xung đột; phải được phân ra thànhtừng hồi; phần nhiều, trước từng hồi đều có những cặp đối ngẫu để thể hiện nội dungcủa hồi đó. Hình thức là một câu văn giống như thơ hoặc từ. Như vậy, khái niệm về tiểu thuyết trong quan niệm của các nhà nghiên cứu vănhọc Trung Quốc và Việt Nam không hoàn toàn thống nhất, quan niệm của những nhànghiên cứu phương Tây và phương Đông cũng rất khác nhau. Với các nhà nghiên cứuphương Tây, trong quá trình đưa ra định nghĩa về tiểu thuyết, hình như họ không có ấntượng gì về tiểu thuyết cổ ở Trung Quốc và các nước sử dụng chữ Hán. Với các học giảphương Đông, cụ thể là ở Trung Quốc và Việt Nam, định nghĩa tiểu thuyết cũng rất mơhồ và hầu như chưa được cô đúc thành một khái niệm mà mới chỉ là những quan niệmhết sức ngắn gọn, giản đơn, chưa nêu lên được những đặc trưng cơ bản của thể loại.Hơn nữa, trong khi nhận định về tiểu thuyết, các học giả phương Đông cũng không dựatrên những quan niệm về tiểu thuyết của phương Tây. Đưa ra nhận định này để thấyrằng, có được nhận thức thống nhất về khái niệm thể loại tiểu thuyết là một việc khókhăn. Ngoài ra, nhóm tác phẩm được nghiên cứu trong bài viết này thuộc về thể loạitiểu thuyết chương hồi hay tiểu thuyết lịch sử vẫn đang là một vấn đề chưa có kết luậncuối cùng. 2.2. Những quan niệm về Tiểu thuyết chương hồi Thuật ngữ Tiểu thuyết chương hồi chỉ một dạng thức tiểu thuyết trường thiên,một thể loại quan trọng trong văn học cổ điển Trung Quốc và Việt Nam. Tiểu thuyết viếttheo dạng này được phân chia thành các hồi khác nhau, phát triển từ lối giảng sử thoạibản thời Tống - Nguyên (Trung Quốc). Giảng sử thoại bản là hình thức kể chuyện (chủyếu là chuyện lịch sử) được những người kể chuyện trong dân gian (thuyết thư nhân -người kể sách, thuyết thoại nhân - người kể chuyện) các đời kể lại. Thoại bản giảng sửthường là trường thiên, là những câu chuyện lịch sử dài, có dung lượng lớn nên họ khôngthể kể xong ngay một lần, buộc phải ngắt ra từng phần khác nhau, mỗi phần được đặtmột tiêu đề còn gọi là hồi mục để tóm lược nội dung. Đó chính là cơ sở để hình thành cáchồi, tiết, quyển của tiểu thuyết chương hồi sau này. Trong khi ngắt câu chuyện thành cáchồi, người ta thường chọn những đoạn có tình tiết quan trọng, gay cấn để tạo cảm giác 28 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015“tiếc nuối” và buộc người nghe phải theo dõi phần tiếp theo của câu chuyện với một lờihẹn “Muốn biết sự việc ra sao, xin xem hồi sau phân giải”. Với tiểu thuyết chương hồi,mỗi chương, hồi, quyển, tiết dù là một bộ phận hữu cơ trong sự thống nhất trọn vẹn củamột bộ tiểu thuyết nhưng tự bản thân nó là một chuỗi tình tiết, sự kiện hoặc nhóm sự kiệntương đối hoàn chỉnh tạo nên cơ cấu của một chuyện ngắn. Như đã trình bày, tiểu thuyếtchương hồi bắt nguồn từ hoạt động giảng xướng văn học, người kể chuyện phải kể câuchuyện dài làm nhiều lần trước một đám đông người nghe, cho nên mỗi lần kể đều phảitạo được sức hấp dẫn, vừa tạo sự hiếu kỳ vừa để “giữ thính giả” cho lần kể tiếp theo.Ngoài ra, có những người tuy rất thích thú câu chuyện nhưng không có điều kiện nghehết toàn bộ, chỉ tham dự được vài lần (có thể là liên tiếp hoặc không liên tiếp) vẫn cảmthấy tạm thỏa mãn, thâu tóm được nội dung. Những tiểu thuyết dạng này, ban đầu không chia thành hồi mà được chia thànhquyển, trong quyển lại phân thành các phần nhỏ gọi là “tắc”, mỗi tắc có một đề mục riêng.Các tiểu thuyết được phân chia thành tắc xuất hiện sớm hơn tiểu thuyết phân chia thành hồi.Trong đó, các tắc dùng hình thức câu đơn, các hồi dùng hình thức câu đối ngẫu. Dạng thứcchương hồi mãi đến cuối đời Minh đầu đời Thanh mới đi vào thế ổn định. Trong tiểu thuyếtchương hồi, tác giả thường đứng ở ngôi thứ ba để dẫn dắt câu chuyện, giới thiệu nhân vậtsau để cho câu chuyện tự diễn biến, nhân vật tự hành động, thi thoảng tác giả mới xuấthiện trong vai trò người bình phẩm bằng lời của “thời nhân” hoặc “hậu nhân”. Nhìnchung ngôn ngữ tác giả trong tiểu thuyết chương hồi còn tương đối mờ nhạt. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận được một số ý kiến chia sẻ quanniệm về thể loại tiểu thuyết chương hồi. Có ý kiến cho rằng, nên xếp thể loại này vàothể loại sử thi anh hùng, anh hùng ca (tiếng Pháp: épopée), vì nội dung của nó phản ánhnhững vấn đề thuộc về lịch sử dân tộc, những xung đột lịch sử kéo dài giữa các tậpđoàn chính trị có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của toàn dân tộc. Theo Từ điển thuậtngữ văn học, anh hùng ca là thể loại tác phẩm tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rấtsớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tínhtoàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử. Vềkết cấu, sử thi là một câu chuyện được kể lại có đầu có đuôi với quy mô lớn, vì theo G.F. Hegel, “Nội dung và hình thức của nó thực sự là toàn bộ các quan niệm, toàn bộ thếgiới và cuộc sống của một dân tộc được trình bày dưới hình thức khách quan của mộtbiến cố thực tại”. Các nhân vật chính của sử thi là những anh hùng, tráng sĩ tiêu biểucho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và trí thông minh, lòng dũng cảm củacộng đồng được miêu tả khá tỉ mỉ, đầy đủ từ cách ăn mặc, trang bị, đi đứng đến nhữngtrận giao chiến với kẻ thù, những chiến công lừng lẫy và đôi khi cả những nét sinh hoạt đờithường của họ nữa, điều đáng chú ý là tất cả những cái này đều được miêu tả trong vẻ đẹpkỳ diệu khác thường... Trong sử thi, chủ yếu mô tả hành động của nhân vật hơn là 29 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015những rung động tâm hồn. Nhưng trong những câu chuyện kể, cốt truyện thường đượcbổ sung thêm những mô tả có tính chất tĩnh tại và những cuộc đối thoại trang trọng cótính nghi thức”(15). Về bản chất, tiểu thuyết chương hồi không phải là anh hùng ca. Thứ nhất, tiểuthuyết chương hồi không viết theo lối văn vần (thơ), mà được viết bằng văn xuôi, chiathành các chương, hồi, quyển hoặc tiết. Thứ hai, thời điểm ra đời của tiểu thuyếtchương hồi khi xã hội đã đạt trình độ phát triển cao, có tổ chức nhà nước theo hình tháiphong kiến, thương nghiệp phát triển, đời sống tâm lý thị dân đã phát triển. Tiểu thuyếtchính là sự tiếp nối, “trên cấp độ tan rã của của hình thức cổ điển của sử thi anh hùng”.Trong khi đó, anh hùng ca ra đời do trí tưởng tượng của dân gian, “miêu tả những sựkiện và xung đột cốt yếu của đời sống hoặc là những xung đột của các lực lượng thiênnhiên; hoặc là những xung đột quân sự giữa các bộ lạc, các dân tộc”. Theo Lại NguyênÂn: “Do đào sâu sự suy tư trên các vấn đề lịch sử dân tộc đã đi đến chỗ sáng tạo ra thểtài tiểu thuyết anh hùng ca, cũng được gọi là tiểu thuyết sử thi (tiếng Phápromanépopée)”(16). Căn cứ trên bình diện nội dung của tiểu thuyết chương hồi chữ HánViệt Nam, chúng tôi cho rằng, thể loại này có sự giao thoa giữa sử thi và tiểu thuyết.Nhưng nếu căn cứ trên bình diện hình thức, thể loại này chỉ nên gọi là tiểu thuyếtchương hồi. Thể loại tiểu thuyết chương hồi là kiểu tác phẩm văn học mang đặc thù của khuvực văn học dùng chung chữ viết - chữ Hán, chịu sự chi phối và ảnh hưởng của vănhóa Trung Hoa. Có nguồn gốc từ tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, tiểu thuyếtchương hồi chữ Hán Việt Nam hay Triều Tiên - Hàn Quốc, Nhật Bản... là một kháiniệm mang tính khu vực. Thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán chỉ xuất hiện ở mộtsố nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên - Hàn Quốc, Mông Cổ, TháiLan và một số nước thuộc vùng Đông Nam Á với hệ thống những tác phẩm mô phỏngtiểu thuyết chương hồi Trung Quốc hoặc do các văn nhân của các nước sở tại sáng tác.Tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam đã hoàn thành sứ mạng của mình vào nhữngnăm đầu thế kỷ XX và không thấy xuất hiện trở lại (tương tự thể loại thần thoại trongvăn học dân gian). Một thể loại văn học tồn tại và phát triển được hay không, một phần dựa vàongười tiếp nhận, trước hết là cách thức truyền bá, phương thức tiếp nhận. Mỗi thể loạivăn học có cách thức khác nhau đến với bạn đọc, với công chúng của mình. Thơ cócách tiếp cận, thưởng thức của thơ, tiểu thuyết có con đường đến với bạn đọc của tiểuthuyết. Thơ có thể đọc, ngâm; nghệ thuật biểu diễn phải có sân khấu để trình diễn, đểxem; truyện thì phải đọc, nghe. Thể loại tiểu thuyết cũng vậy, cũng có cách thưởngthức riêng. Tiểu thuyết chương hồi có nguồn gốc từ thoại bản, thông qua đội ngũ thuyết 30 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015thoại nhân, thuyết thư nhân mà đến được với người nghe. Khi được các tác giả tập hợp,viết thành tác phẩm, được in thành sách, bạn đọc có thể tìm đọc bất kỳ lúc nào. Với thểloại tiểu thuyết chương hồi, còn một cách thưởng khác, đó là nghe (người có tài kểchuyện) kể từng hồi một, hết hồi này sang hồi khác. Do cấu trúc tác phẩm tiểu thuyếtchương hồi được chia thành nhiều hồi, nên người kể có thể kể từng hồi. Ngày hôm saulại tiếp tục ở đoạn tiếp theo mà người nghe vẫn hiểu được nhờ các đoạn hồi cố: “Lạinói...”. Thực tế do kỹ thuật in ngày trước chưa có hoặc chưa phát triển nên không cónhiều bản sách được lưu hành trong đời sống. Hơn nữa, cũng không mấy người biếtchữ để có thể tự đọc, tự hiểu các câu chuyện. Người kể chuyện thường kiêm luôn chứcnăng “phê bình” và có những lời bình sâu sắc, khiến cho câu chuyện được kể thêm hấpdẫn. Tiểu thuyết chương hồi có thể được lưu giữ trong dân gian, được kể theo từngchương, hồi vì mỗi chương, hồi là một chuyện tương đối hoàn chỉnh. 2.3. Tiểu thuyết chƣơng hồi chữ Hán Việt Nam Tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam là thuật ngữ chỉ một nhóm tác phẩmvăn xuôi viết bằng chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam, có đề tài liên quan đếnlịch sử, cấu trúc tác phẩm chia thành hồi, quyển, tiết mang những đặc trưng tiểu biểucủa văn học trung đại. Đây là thể loại có hình thức và những nguyên tắc sáng tác đượcvay mượn từ tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc nhưng nội dung phản ánh là nhữngvấn đề thuộc về lịch sử Việt Nam. Cùng với sự xuất hiện tiểu thuyết chương hồi chữ Hán là sự ra đời của đội ngũ sángtác mới, mang đặc trưng của loại hình tác giả văn học Việt Nam trung đại. Tác giả tiểu thuyếtchương hồi chữ Hán Việt Nam đã thoát khỏi lối ghi chép lạnh lùng, cứng nhắc của sử gia đểtrở thành những tác giả văn học. Sự dịch chuyển trong điểm nhìn tác giả, từ điểm nhìn sử giasang điểm nhìn tác giả tiểu thuyết đã đem lại một cách tiếp cận mới đối với những vấn đề củalịch sử. Đây cũng là sự thay đổi ý thức của đội ngũ sáng tác văn học trung đại, tạo nên nhữngtác giả, có ý thức sáng tác văn chương chứ không chỉ là những người chi chép lịch sử, ý thứccoi trọng văn chương nghệ thuật cao hơn lịch sử được nâng lên một bước. 3. KẾT LUẬN Ngày nay, khi nghiên cứu thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam,cần có một thái độ khách quan và khoa học, không nên chỉ dựa trên những quan niệm vềtiểu thuyết hiện đại để nhìn nhận, đánh giá tiểu thuyết cổ điển. Ngoài ra, cần có quanđiểm lịch sử cụ thể về thể loại tiểu thuyết chương hồi chứ không thể nhất nhất dựa trênnhững định nghĩa sẵn có về tiểu thuyết hiện đại để đưa ra những kết luận. Đối với tiểuthuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam, việc làm trên là cần thiết, bởi vì đây là một thể loạicó nhiều vấn đề phải nghiên cứu thêm. Nó không còn là những ký sự lịch sử đơn thuần,cũng chưa đạt đến sự hoàn mỹ của thể loại tiểu thuyết hiện đại. Tính chất giao thoa ấy, 31 TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015khiến vấn đề quan niệm về thể loại trở nên khó nắm bắt và gây ra những trở ngại cho quátrình nghiên cứu về thể loại này.Chú thích: (1), (15): 328, 285, 286; (2), (16): 1716, 46; (3), (4): 8, 24; (5): 45; (6): 109; (7), (8),(9): 9, 10; (10): 8; (11): 3; (12): 21; (13): 249; (14): 105. TÀI LIỆU THAM KHẢO M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và dịch), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. Đặng Anh Đào (1993), “Sự tự do của tiểu thuyết - một khía cạnh thi pháp”, Văn học, (3). Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng Chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ văn học (Tái bản), Nxb. Giáo dục, Hà Nội. Đỗ Đức Hiểu - Nguyễn Huệ Chi - Phùng Văn Tửu - Trần Hữu Tá (đồng Chủ biên) (2004), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb. Thế giới, Hà Nội. J. M. Lotman (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật (Trần Ngọc Vương - Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Thu Thủy dịch), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. Phương Lựu (2002), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. Phương Lựu (2005), Lý luận văn học cổ điển phương Đông, (Tuyển tập), Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. Trần Nghĩa (1998), “Di sản Hán Nôm theo hướng tiếp cận văn học so sánh”, Hán Nôm, (3). Trương Quốc Phong (2001), Tiểu thuyết sử thoại các thời đại Trung Quốc (Thái Trọng Lai biên dịch), Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh. Lỗ Tấn (2002), Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc (Lương Duy Tâm dịch), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. Bùi Việt Thắng (2000), Bàn về tiểu thuyết, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. THE NOTION OF NOVEL AND CHAPTERS NOVEL IN VIET NAM Vu Thanh Ha, Nguyen Thi My Dung ABSTRACT This article studies the notion of novel and chapters novel - the prose works bydraft text of Vietnam modeled Chinese episodic novel. The results of the study showed 32