Transdisciplinary Là Gì

  -  

Đánh giá nhà cái AE888 – Sân chơi cá cược uy tín hàng đầu hiện nay


*

Xuyên ngành xuất hiện từ sự phê phán cấu hình trithức chuẩn của các bộ môn trong chương trình giảng dạy, gồm cả những quan ngạivề đạo đức và luân lý. Những tuyên ngôn về xuyên ngành xuất hiện trước tiêntrong thập niên 1970, trong thời kỳ cao điểm chính phủ hỗ trợ khoa học và đại họcrồi thoái giảm sau đó. Thoạt đầu tập trung vào các vấn đề nhận thức luận và kếhoạch hóa đại học tương lai và chương trình đào tạo. Sau một thời ngủ quên,xuyên ngành tái nổi lên trong thập niên 1990 như một chủ đề cấp bách liên quanđến giải pháp cho những quan ngại mới mang tính toàn cầu, phức tạp cao, khởi sựvới biến đổi khí hậu và tính bền vững, rồi mở rộng sang nhiều lĩnh vực liênquan đến khoa học, công nghệ, vấn đề xã hội và chính sách, giáo dục và nghệ thuật.Ngày nay, đặc trưng của xuyên ngành là tập trung vào “những vấn đề ác tính” đòihỏi giải pháp sáng tạo, là niềm tin của nó vào sự tham gia của các bên liênquan, vào sự thực hành một khoa học có trách nhiệm xã hội. Vừa nghiên cứu đa cấpđộ thế giới thực vừa thực hiện đa góc nhìn thế giới thực, xuyên ngành cung cấpmột tiềm năng hấp dẫn khích động hoạt động nghiên cứu cả bên trong lẫn bênngoài giới hàn lâm.

Bạn đang xem: Transdisciplinary là gì

Đang xem: Transdisciplinary là gì

Từ khóa tiếngAnh: transdisciplinarity, knowledge practice, socially responsible science,integration of knowledge, wicked mess.Từ khóa tiếngViệt: xuyên ngành, thực tiễn tri thức, khoa học có trách nhiệm xã hội, thống hợptri thức, vấn đề ác tính.

Xem thêm: Tai Game Cuộc Chiến Thây Ma Plants Vs Zombie Hack Coin, Crack Sms

*
Alfonso Montuori (1960-)

Xuyên ngành (transdisciplinarity) phản ánh thay đổitrong suy nghĩ về nghiên cứu và đào tạo, thách thức lối phân công lao động họcthuật thành các bộ môn truyền thống, như Anh ngữ, xã hội học, hay địa chất. Vấnđề không phải chỉ là ở chỗ các học giả cần nghiên cứu chéo sang ngành khác, cũngkhông phải chỉ là việc xuyên chéo giữa các ngành (disciplinary crossing) khôngđược giới hạn chỉ vào hợp tác theo dự án mà các ngành xuyên chéo ấy đều có lợi.Mà hơn thế, vấn đề là ở chỗ sự tin chắc vào các hệ hình chuyên ngành(disciplinary paradigms) và sự chấp nhận các bộ môn như là cơ sở cho việc tổ chứctri thức, khảo cứu và giảng dạy, những việc này cần bằng cách nào đó phải đượcvượt lên. Về phần mình, các nhà lý thuyết xuyên ngành đề xuất những nguyên tắcvà tiêu chuẩn mới cho mở mang tri thức. Đầu tiên xuất hiện vào cuối giai đoạnmà sau này gọi là kỷ nguyên vàng của khoa học (Freeland, 1992) rồi từng bướclan tràn trong cuối thế kỷ XX, xuyên ngành trở nên một hiện diện quan trọngtrong cảnh quan đại học. Xuyên ngành xuất hiện và phát triển phản ánh nhữngcách thức đang nổi lên không chỉ trong việc tổ chức mà cả trong việc tư duy vềtri thức và nghiên cứu trong một thế giới đang ngày càng trở nên “quá lớn để cóthể hiểu được” (Weinberger, 2011). Như Alfonso Montuori (2008, trang ix) viếttrong lời nói đầu cho cuốn sách gần đây, “Có lẽ trên hết, xuyên ngành là mộtcách nghĩ mới về nghiên cứu và cách làm mới trong nghiên cứu”.

Xem thêm: Ninja School Trên App Store, Cho Nick Ninja School Online Vip Miễn Phí Teamobi

*
Jean Piaget (1896-1980)
*
*
André Lichnerowicz (1915-1998)
*
Kenneth Boulding (1910-1993)

Đáng kinhngạc, cũng vào năm mà các học giả Âu châu hàng đầu đề xướng khái niệm xuyênngành trong cái hội nghị OECD ở Pháp ấy, thì Jack Lee Mahan, Jr., một nghiêncứu sinh người Mỹ 28 tuổi trong ngành hành vi con người ở Đại học Quốc tế HoaKỳ, một cách độc lập, trình luận án tiến sĩ Toward Transdisciplinary Inquiryin the Humane Sciences (Hướng đếnnghiên cứu xuyên ngành trong các khoa học con người). Mahan nêu luận điểmgiống Jantsch về tổng hợp và thống hợp tri thức (synthesis and integration ofknowledge), nhưng bổ sung các chiều cạnh luân lý: nhu cầu “tôn trọng sự sống,con người, và hoàn cảnh con người” (Mahan, 1970, trang 21). Mahan đi xa hơn Jantsch,khi phê phán tình trạng ngày càng chia nhỏ trong các bộ môn truyền thống, phêphán các lý tưởng tách rời và xa cách trong nghiên cứu. Mahan phân tích vănliệu triết học về khoa học xã hội, chỉ ra rằng mặc dù xuyên ngành có thể là mộtthuật ngữ mới, song mối quan tâm với ý tưởng ấy thực ra đã thể hiện bên dướinhững dòng chữ trong nhiều công trình của các học giả thế kỷ XX mà Mahan tríchdẫn. Tuy không đưa ra định nghĩa tường minh về xuyên ngành, đoạn văn sau đâycung cấp ý nghĩa cho cái mà Mahan quan niệm về xuyên ngành và nó có thể cảithiện chất lượng khoa học như thế nào: “Nghiên cứu xuyên ngành có thể đặc trưngbởi định hướng chung vượt lên các ranh giới bộ môn và bởi nỗ lực đem lại tínhliên tục cho nghiên cứu và tri thức. Những đặc trưng khác là: chú trọng đếntính toàn diện, bối cảnh và khung tham chiếu của nghiên cứu và tri thức; thâmnhập giữa các ranh giới của những khái niệm và bộ môn; mở rộng ranh giới các bộmôn để thúc đẩy hiểu biết về những mặc định ngầm ẩn, các quá trình nghiên cứuvà những tri thức thu được; tôn trọng nhân bản đối với cuộc sống và phẩm giácon người; hoài bão tích cực ứng dụng tri thức vào cải thiện cho con người vàxã hội” (Mahan, 1970, trang 194-195). Về sau, ta có thể tìm thấy nguồn gốc lạc quan của xuyên ngành theonghĩa khả năng một sự tổng hợp mới trong giáo dục đại học, công nghệ và khoahọc. Thời gian rất đúng lúc, vì công luận vinh danh khoa học hàn lâm và khoahọc nhà nước nhờ thành công chương trình Apollo đưa người lên Mặt Trăng. Nguồntài trợ lên đỉnh và tăng trưởng cao khiến kích thích nghĩ lớn, hình dung đạihọc có thể là gì trong một thế giới hoàn hảo. Những phát hiện mới trên nhiềumặt trận cũng khiến các học giả và nhà khoa học nghĩ lớn theo nghĩa các hệthống vĩ mô (bao gồm ý tưởng về “Spaceship Earth” và “Global Village”) và pháttriển những kết nối có ý nghĩa giữa những đối tượng bề ngoài có vẻ cách xanhau. Ý tưởng kết nối nhiều sự vật dường như khác biệt nhau là chủ đề quan tâmtrong công trình của các nhà lý thuyết hệ thống như R. Buckminster Fuller,Kenneth Boulding, E. F. Schumacher, René Dubos, Ludwig von Bertalanffy,Marshall McLuhan, Ervin Laszlo, và C. West Churchman, những trí thức hàng đầuđược công luận biết đến thời ấy.Thởi kỳ nàycũng đánh dấu sự nổi dậy của sinh viên và xung đột thế hệ (Feuer, 1969): phảnvăn hóa (counterculture), thứ đã đẩy đến những đối chọn (alternatives) sáng tạo,nếu không nói là cấp tiến và nhìn chung là không khả thi, thách thức nguyêntrạng (status quo) (Roszak, 1969), lên đến đỉnh điểm, và bất mãn với đại học, đượccho là cánh tay nối dài của giới “quyền uy chính thống” (the establishment).Nhiều giáo sư đồng cảm với sinh viên cấp tiến và đồng nhất mình với chủ nghĩalý tưởng của sinh viên. Có lẽ, một hiệu ứng phụ hay hiệu ứng hậu phản văn hóalà các suy đoán không tưởng về những khả năng tương lai của đại học, và một vàitrong số đó thể hiện ra trong những công trình đầu tiên về xuyên ngành. Do đó, cónhững đại học mới thành lập trên cơ sở một vài trong những lý thuyết như thế. Khoảnhkhắc vinh quang tưởng như bất diệt bởi thành tựu tuyệt vời con người đổ bộ lênMặt Trăng năm 1969 hóa ra quá ngắn ngủi, khi nó bị đóng lại chỉ bốn năm sau bởicuộc khủng hoảng dầu lửa OPEC đầu tiên. Điều này gây nên sự thoái giảm nhanhchóng so với trước những tài trợ chính phủ dành cho giáo dục đại học khởi đầutừ Hoa Kỳ và tác động đến việc duy trì nhưng không mở rộng các kế hoạch lýtưởng cho hệ thống giáo dục dựa trên những khái niệm đang nổi lên về tri thức. Hợp tác vàphối hợp liên ngành vốn hình thành từ lâu trong đại học Hoa Kỳ vẫn giữ đượcnhịp độ và còn tiếp tục đà tiến ở thập niên 1970 trong nghiên cứu phụ nữ (saunày là nghiên cứu giới), khoa học môi trường, nghiên cứu đô thị, và khoa họctri nhận (J. T. Klein, 1996). Muộn hơn, người ta thấy những phân nhánh liênngành tạo nên những chuyên ngành mới như nghiên cứu khuyết tật, nghiên cứu hòabình và xung đột, ở đây chỉ kể ra hai thành công. Trong chừng mực những chươngtrình nghiên cứu và giảng dạy xuất hiện xung quanh những chủ đề mới ấy, có nhucầu xác định và phê chuẩn giáo trình, phân bổ nguồn lực. Thế nhưng ý tưởng vềxuyên ngành xuất hiện đầu thập niên 1970 thì lại không phát triển gì cả và gầnnhư không được viện dẫn cho đến đầu thập niên 1990.

*
Joseph J. Kockelmans (1923-)

Một thảoluận hiếm hoi về xuyên ngành xuất hiện trong giai đoạn ngủ quên ấy là chươngsách của Joseph J. Kockelmans trong cuốn sách chính ông chủ biên về liên ngànhvà giáo dục đại học (1979). Kockelmans là nhà triết học sinh ở Hà Lan, học ởchâu Âu nhưng làm việc ở Mỹ và lại theo truyền thống lục địa. Là một trong sốít người trích dẫn đến Mahan (1970) và trích dẫn đến kỷ yếu Hội thảo CERI trongđó có tham luận của Jantsch (1972a), Kockelmans định nghĩa xuyên ngành là “côngtác khoa học của một nhóm các nhà nghiên cứu … nhằm theo đuổi một cách có hệthống vấn đề làm thế nào khắc phục được các hiệu ứng phụ tiêu cực của việcchuyên ngành hóa sao cho việc giáo dục (và nghiên cứu) có ý nghĩa nhiều hơn vềmặt xã hội” (Kockelmans, 1979, trang 128). Đối với Kockelmans, mục tiêu của xuyên ngành không phải chủ yếu là tìmra giải pháp hợp lý cho vấn đề đang nghiên cứu mà là phát triển một khung lýthuyết lớn hơn, thống nhất và toàn diện cho hoạt động khoa học và hàn lâm.

*
Ellen Messer-Davidow

Vài pháttriển không nhất thiết liên quan đến nhau đã đưa xuyên ngành trở lại trung tâmsân khấu, không chỉ như là một triết học thú vị về giáo dục và khoa học, mà cònnhư là một chủ đề cấp bách. Đó là tái nhận thức về vấn đề chuyên ngành với tínhcách là một phương thức cấu trúc hóa tri thức, được tập trung thảo luận trongcông trình của Ellen Messer-Davidow, David Shumway, và David Sylvan(Messer-Davidow, Shumway, & Sylvan, 1993; Shumway & Messer-Davidow,1993). Chính hiện tượng chia cắt tri thức vào những bộ môn tách biệt nhau cónhân lực, cách làm cách nghĩ, cách phấn đấu thành tựu riêng vốn hiển nhiên đếnmức gần như không ai nhận ra, tuy cũng có vài người đã lưu ý như Donald T.Campbell (1969), chính hiện tượng này đã cảnh báo sớm về tình trạng vừa thừavừa thiếu trong hệ thống chuyên biệt hóa trong khoa học xã hội. Những côngtrình ban đầu của các nhà lý thuyết giáo dục học như Philip H. Phenix (1964) vàsau đó là Paul Dressel và Dora Marcus (1982) về bản chất của chuyên ngành vớitính cách là những cấu trúc tri thức, đã phân tích những khía cạnh có ý nghĩabao quát trong một số bộ môn khoa học. Tương phản lại, cách nhìn mới xem các bộmôn là những kiến tạo xã hội, đặt nghi vấn về tính hiệu lực của các thực hànhxung quanh sự phân mảnh tri thức theo bộ môn và chỉ ra những hạn chế cố hữu tronghệ thống phân ngành (xem Lattuca, 2001, trang 23-54 có một tổng quan tinh tế vềcác khái niệm liên quan đến tính phân ngành, và xem Stark & Lattuca, 1997, trang141-176).Một yếu tốthen chốt khác là Chiến tranh Lạnh kết thúc dẫn đến dỡ bỏ Bức màn Sắt, tạo điềukiện cho cái được gọi là lực lượng lao động toàn cầu mới. Chiến tranh Lạnh kếtthúc có nghĩa là chấm dứt những căng thẳng và xung đột này nhưng lại bắt đầunhững căng thẳng và xung đột kia. Ngày càng nhận thức được rằng toàn cầu hóakhông nhất thiết là tốt. Trước hết, ngay từ đầu thập niên 1980 đã chứng kiếncái sau này gọi là đại dịch AIDS, một ví dụ về loại vấn đề chuyển biến rấtnhanh vượt mọi biên giới và không thể ngăn chặn được (Engel, 2006). Chủ nghĩatư bản toàn cầu dưới hình thái các công ty đa quốc gia thúc đẩy những dạng bóclột mới phi nhân tính như đã từng tồn tại trong thời kỳ công nghiệp ban đầu (N.Klein, 2000). Dĩ nhiên, chúng ta không còn sống trong thời kỳ công nghiệp nữamà đã ở thời kỳ thông tin, hậu công nghiệp, trong một nền kinh tế đặc trưng bởisản xuất tri thức và dịch vụ chứ không phải bởi chế tác vật phẩm (Kumar, 1995).Một lối suy nghĩ hoàn toàn mới về văn hóa và xã hội gọi là chủ nghĩa hậu hiệnđại hay tính hậu hiện đại (postmodernism, postmodernity) không có tính địa điểm(dislocation, a sense of ultimate placelessness), xuất hiện ở chân trời và ảnhhưởng rất mạnh đến tư tưởng trong khoa học xã hội, nhân văn và nghệ thuật từđầu thập niên 1990 (Harvey, 2004). Cảnh báo về môi trường đang lờ mờ sụp đổkhông phải là điều mới mẻ, ta đã biết trong Báo cáo của Câu lạc bộ Rome năm 1972The Limits to Growth(Nhữnggiới hạn của tăng trưởng) (Meadows, Meadows, Randers, & Behrens,1972),thậm chí sớm hơn nữa trong tác phẩm kinh điển của Rachel CarsonSilentSpring (Mùa xuân im lặng)(Carson,1962).Song, nhận thức cao về mối liên hệ chặt chẽ của môi trường với biếnđổi chính trị xã hội dẫn đến thừa nhận mới về tính dễ tổn thương của trái đấtvới tính cách là môi trường (không chỉ bao gồm đất đai mà cả nước và khôngkhí), đặc biệt về mối đe dọa thảm họa biến đổi khí hậu do hoạt động con ngườigây ra. Dự đoán biến đổi khí hậu không chỉ là nguyên nhân tăng nhiệt độ chưatừng có ảnh hưởng đến nông nghiệp và khả năng sinh sống của con người, mà cònlà nguyên nhân của nước biển dâng và tuyệt chủng hàng loạt.

*
Basarab Nicolescu (1942-)
*
Edgar Morin (1921-)

Vì thế,cho dù danh từ và tính từ xuyên ngànhtheo ý nghĩa cơ bản bao hàm sự vượt lên khuôn khổ chính thống các bộ môn khoahọc truyền thống đã xuất hiện lần đầu tiên khoảng năm 1970, song hơn hai thậpniên sau đó chưa có điều kiện để xuyên ngành hiện diện (xem Kessel &Rosenfield, 2008). Tính bền vững và khủng hoảng môi trường toàn cầu đã là chủđề nóng đẩy khái niệm xuyên ngành cho đến khi ấy còn ít được sử dụng lên phíatrước trong các cuộc tranh luận về khoa học và kế hoạch hóa. Là người đối thoạichủ chốt trong tranh luận về những kết hợp mới giữa các bộ môn trong giáo dục, JulieThompson Klein (2001) minh định Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về Trái Đấtdiễn ra ở Rio de Janeiro năm 1992 là bước ngoặt nhận thức về nhu cầu hành độngtrong các cộng đồng hàn lâm và khoa học. Ngay sau đó, năm 1994, Hội nghị Xuyênngành Thế giới lần thứ nhất diễn ra ở Convento da Arrábida, Bồ Đào Nha, thôngqua Hiến chương Xuyên ngành (Charter of Transdisciplinarity), do nhà vật lý lýthuyết người Romania Basarab Nicolescu cùng với nghệ sĩ Bồ Đào Nha Lima deFreitas và nhà xuyên ngành người Pháp Edgar Morin dự thảo (de Freitas, Morin,& Nicolescu, 1994). Quan điểm của Nicolescu thể hiện rõ trong Hiến chương,và ông đóng vai trò lãnh đạo trong việc phát triển một lý thuyết và chươngtrình về xuyên ngành.Trong Hiếnchương cũng như trong các ấn phẩm khác, Nicolescu (chẳng hạn 2002, 2010) minhđịnh xuyên ngành là sự bổ sung cho các tiếp cận theo ngành. Khái niệm xuyênngành của ông tập trung vào tính phức tạp (complexity) như là một đặc điểm nềntảng của hiện thực, vào tiền đề của các cấp độ và lát cắt khác nhau của hiệnthực, và vào cái mà ông gọi là logic củaincluded middle, một tháchthức lại tiên đề của Aristotle vềexcluded middle. Với gợi ý vềlogic thách thức đó, theo tinh thần cơ học lượng tử, Nicolescu muốn các nhàkhoa học “tư duy lại” về sự tách biệt tuyệt đối trong truyền thống giữa chủ thểvà đối tượng (subject and object) (Nicolescu, 2010). Quan điểm xuyên ngành của Nicolescutỏ ra có khả năng áp dụng vào thống nhất các ngành nhân văn, gồm những ngànhnhư tôn giáo và triết học tri thức và giáo dục, với các ngành khoa học vật lýlàm việc trong phòng thí nghiệm hay quan sát không gian. Như Sue McGregor giảithích, Nicolescu quan tâm đến ý nghĩa của việc vượt lên khỏi các chuyên ngànhvà khẳng định “xuyên ngành đồng nhất với một dạng tri thức mới về cái ở giữa, xuyên chéo, và vượt trên các bộmôn (ý nghĩa của xuyên)” (McGregor,2015b, “Nicolescuian Approach to Transdisciplinarity”). Ông cũngthúc giục các học giả vượt lên khỏi tâm thức phân đôi hoặc này hoặc kia (either/ormentality), mà theo ông,đã gây ra rất nhiều tai họa cho con người.

*

Đúng vàonăm diễn ra Hội nghị Xuyên ngành Thế giới lần thứ nhất, một dự án khác xuấthiện có tiếp cận hơi khác với xuyên ngành. Cuốn sách The New Production ofKnowledge (Sản xuất mới tri thức)(Gibbons và cộng sự, 1994), cũngcó ảnh hưởng nhiều như khung lý thuyết ngầm ẩn của Nicolescu, nhưng thể hiệnmột quan điểm và chương trình khác về xuyên ngành. Các tác giả Michael Gibbons,Camille Limoges, Helga Nowotny, Simon Schwartzman, Peter Scott, và Martin Trow,có lý lịch chuyên môn trong khoa học xã hội và chính sách, nên kết nối vấn đềvới khoa học, công nghệ, và giáo dục hơn là với các khoa học cứng hay triếthọc. Vì vậy, công trình của họ được xem là có tính thực tiễn trực tiếp hơn là côngtrình mang tính lý thuyết và mơ hồ của Nicolescu, mặc dù họ thiếu tầm nhìn xatrông rộng như Nicolescu. Công trình của họ là hợp tác của một tập thể, bảnthân thực tế này tự nó đã có ý nghĩa. Vì thông điệp của họ liên quan đến hợptác giữa các chuyên gia từ nhiều bộ môn khác nhau, dựa trên những dự án đặc thùvượt khỏi ranh giới các bộ môn. Đóng góp mới của họ là khái niệm sản xuất trithức Kiểu 2 (Mode 2 knowledge production), là tri thức phát triển cho một sự ápdụng đặc thù và liên quan đến công việc của các chuyên gia từ giới hàn lâm, chínhphủ, và công nghiệp. Các tác giả nhấn mạnh, kiểu sản xuất tri thức và giảiquyết vấn đề như thế không chỉ là nghiên cứu và phát triển ứng dụng, cũng khônggiới hạn vào khoa học, công nghệ, hay y học, mà còn mở rộng ra các ngành nhânvăn như bảo tàng, kiến trúc, và những cách nghiên cứu dựa trên công nghệ thôngtin. Sản xuấttri thức Kiểu 2, mà các tác giả liên kết với xuyên ngành, xuất hiện khi toàncầu hóa tăng lên sau Chiến tranh Lạnh. Không đưa ra một triết học về xuyênngành như Nicolescu, công trình của Gibbons và cộng sự mang tính mô tả và phântích. Nó giúp độc giả hiểu xuyên ngành, và có ảnh hưởng trong việc thúc đẩy xãhội học khoa học, công nghệ, và giáo dục đại học, cũng như là chính sách trongcác lĩnh vực trên. Công trình ấy (Gibbons và cộng sự, 1994) và công trình nhìnlại sau đó (Nowotny, Scott, và Gibbons, 2001), có ý nghĩa quan trọng trong cậpnhật định nghĩa và phạm vi xuyên ngành kể từ thời Jantsch và Piaget, đặc biệttrong phát triển khái niệm quan trọng mới về sản xuất tri thức Kiểu 2 (xem Etzkowitz& Leydesdorff, 2000). Ngay cả khi ai đó không hoàn toàn đồng ý với lập luậncủa Gibbons và cộng sự về sản xuất tri thức Kiểu 2, thì sự kết nối giữa giớihàn lâm, công nghiệp, chính phủ và phi chính phủ vẫn mang tính nền tảng hiểnnhiên để hiếu về sản xuất tri thức trong thế giới hôm nay. Kiểu tổ chức quanliêu, chính trị, kinh tế và xã hội mới ấy có ý nghĩa quan trọng trong côngtrình của một số nhà xuyên ngành. Việc xuấthiện gần như đồng thời hai luận đề chính về xuyên ngành gây đôi chút ồn ào vàmơ hồ trong giới nghiên cứu và giảng viên. Thông qua một loạt nỗ lực riêng rẽ,có vẻ như các nhà nghiên cứu đã đồng thuận về vấn đề xuyên ngành là gì. Trướchết, xuyên ngành là nhìn lại một cách sáng tạo các bộ môn và những khả năng kếthợp chúng (Castán Broto và cộng sự, 2002; Lawrence & Després, 2004). Trongkhi không cần một sự phân biệt quá chặt hay tuyệt đối giữa xuyên ngành với đangành (tập hợp các đầu ra từ những bộ môn khác nhau mà không có sự tổng hợp), vàvới liên ngành (hợp tác giữa các nhà nghiên cứu từ những bộ môn khác nhau nhằmđạt tới một sự tổng hợp và thống hợp tri thức), thì nhìn chung xuyên ngành từchối việc tách biệt và phân phối các chủ đề và tiếp cận hàn lâm vào những ống“xi lanh” (cilos) chuyên ngành (xem Choi & Pak, 2006 về giải thích và thảoluận những thuật ngữ trên). Xuyên ngành thách thức toàn bộ khung tư duy chuyênngành và cố gắng tập hợp những tiếp cận mới trong cọ xát, sử dụng tài liệu củacác bộ môn đang tồn tại cho những dự định mới. Nicolescu thườngviết về những cấp độ của hiện thực – tính chủ quan, tính khách quan, và cái màông gọi là “cái thứ ba ẩn giữa chủ thể và đối tượng” (“the hidden third betweenthe subject and the object”, Nicolescu, 2012). Nicolescu thảo luận về chủ thểvà đối tượng trong nghiên cứu thế giới vật lý, hóa học, và sinh học, nhưng ôngcũng khẳng định khái niệm các cấp độ hiện thực của mình (mà ông cho là kháiniệm then chốt của xuyên ngành) có thể áp dụng vào nghiên cứu xã hội. Một sốnhà khoa học xã hội theo quan điểm diễn giải (interpretive), có lẽ đi theo cáchkhiêu khích của Jürgen Habermas, Hans-Georg Gadamer, và Charles Taylor hơn làtheo cách của Nicolescu (xem Rabinow & Sullivan, 1987, Richardson &Fowers, 1998), đã suy ngẫm về quan hệ giữa những nhà nghiên cứu được cho làkhách quan, tách biệt với những cá nhân hay quần thể được nghiên cứu. Những cânnhắc ấy đòi hỏi nhà nghiên cứu không chỉ thừa nhận tính chủ quan riêng của mìnhmà còn phải đẩy lên trước những câu hỏi về đạo đức đối với quần thể được nghiêncứu, ở đó có sự khác biệt quyền lực giữa nhà nghiên cứu và khách thể nghiêncứu. Điều này dẫn đến kết quả nghiên cứu vượt lên kiểu khoa học xã hội diễngiải chuẩn và trở thành nghiên cứu xuyên ngành theo nghĩa nó đưa khách thểnghiên cứu tham gia vào nghiên cứu theo cách bình đẳng với nhà nghiên cứu. Tiếpcận này thể hiện cụ thể trong một dự án dân tộc học và lịch sử tộc người về ngườibản địa Alaska. Kết quả của dự án là một cuốn sách và một triển lãm bảo tàngdựa trên cộng đồng cùng xem xét và phản tư về những giá trị của người Alutiiq,những người không phải được nghiên cứu như là đối tượng của các chuyên gia màcùng chia sẻ sáng tạo nên kết quả nghiên cứu (Crowell và cộng sự, 2001). Kiểucông trình như thế tạo nên đối thoại giữa các nền văn hóa thiểu số và đa số,bao gồm những người tham gia từ bên ngoài cộng đồng hàn lâm, và nỗ lực vượt lênsự phân đôi truyền thống giữa quan điểm khách quan và chủ quan. Giống như mộtcuốn sách khác cùng thời, Exotic No More(Không còn lạ nữa) (MacClancey, 2002), nó chỉ ra khả năng của nhânhọc, một bộ môn khoa học xã hội chính thống, ít nhất cũng là tiềm ẩn sử dụngcác hệ hình nghiên cứu xuyên ngành đang nổi lên và đóng góp vào văn liệu xuyênngành. Gần đây hơn, phương pháp điền dã dân tộc học quan sát tham gia, vốn xuấtxứ từ nhân học văn hóa, đã được các bộ môn khác đón nhận và chấp nhận để có thểhiểu sâu vào suy nghĩ và thực hành của những người được nghiên cứu. Liên quanđến sử dụng phương pháp dân tộc học là việc tham gia của các bên liên quan vàodự án xuyên ngành (Bergmann và cộng sự, 2012, trang 124).Nhữngnghiên cứu khác theo đuổi mục đích tạo nên một khoa học dấn thân, có tráchnhiệm xã hội cũng có thể xem là xuyên ngành. Như ta thấy, quan ngại biến đổikhí hậu toàn cầu đã là tâm điểm tạo nên phong trào nghiên cứu xuyên ngành.Nhiều người cố gắng xây dựng khoa học về tính bền vững, điều này gắn bó mậtthiết với phong trào xuyên ngành (Brandt và cộng sự, 2013, Hirsch Hadorn vàcộng sự, 2006). Thêm nữa, các mục tiêu nghiên cứu và đào tạo của xuyên ngànhcũng đi đôi với nhau (Evans, 2015). Ý tưởng về tính bền vững tiến hóa từ mộtkhái niệm thành một phong trào lôi kéo không chỉ khoa học, chính phủ và côngnghiệp, mà cả sự tham gia của người dân, bao gồm các nhà lãnh đạo tôn giáo,nhận thức của người tiêu dùng, tẩy chay và phản đối, và nhiều nữa (Cardonna,2014). Với quan ngại về một hành tinh có thể đang hấp hối, nhu cầu phòng ngừathảm họa đem lại cảm giác khẩn thiết và chạy đua với thời gian, và đòi hỏikhông chỉ nâng cao nhận thức mà cả thay đổi hành vi. Tina Lynn Evans (2015, trang72) đã viết về cuộc khủng hoảng bền vững và nghĩ rằng các nhà giáo dục cần địnhhình thảo luận của họ về tính bền vững theo nghĩa không chỉ là khoa học mà cònlà đạo đức, bao hàm “sự công bằng liên thế hệ trên một khung thời gian dài vàtrên sức khỏe và sự chính trực của các xã hội con người với thế giới tự nhiên”. Tác giảtrích dẫn Michael Crow liệt kê các chủ đề đòi hỏi nhà giáo dục phải có phảnứng, như đói nghèo, biến đổi khí hậu toàn cầu, tuyệt chủng các loài, khai tháccạn kiệt tài nguyên, và hủy hoại hệ thống sinh thái.

*
Horst W. J. Rittel (1930-1990)
*
Melvin M. Webber (1920-2006)

Những vấnđề như thế cực kỳ phức tạp và có thể mô tả hoàn toàn đúng như là những vấn đề “áctính” (wicked) (Brown, Harris, & Russell, 2010), theo nghĩa hơn cả tính khóchữa trị, chúng thách thức định nghĩa hoàn chỉnh và không thể giải quyết bằngnhững cách nghiên cứu và ra quyết định hiện có. Thêm nữa, không thể có giảipháp cuối cùng cho những vấn đề như thế vì mọi giải pháp đều tạo ra những vấnđề mới (Brown, Dean, Harris, & Russell, 2010, trang 1-2). Hai nhà lý thuyếtthiết kế Horst W. J. Rittel và Melvin M. Webber (1973) là những người đầu tiênnhận diện và định nghĩa khái niệm vấn đề ác tính, nó từ chỗ là một điểm thảoluận trong khoa học chính sách trở thành một tâm điểm trong văn liệu xuyênngành gần đây (so sánh McGregor, 2015a, người cũng dùng một thể hiện khác cùng ýnghĩa, “đống xà bần ác tính” (wicked messes)). Các vấn đề ác tính, bao gồm xungđột và tính bền vững, nó vượt lên mọi nguồn lực cho tiếp cận đơn ngành thậm chítiếp cận liên ngành truyền thống để tìm kiếm giải pháp, những vấn đề đó đã trởthành nguồn tài liệu hàng đầu trong công tác xuyên ngành đương đại. Đây lànhững vấn đề gây áp lực, thậm chí khủng hoảng, di căn đa khu vực hay đa phươngdiện, và lôi kéo không chỉ các bộ môn hàn lâm hay tương tác giữa chúng mà cảcác nhà thực tiễn ngoài giới hàn lâm đang cố gắng tìm kiếm giải pháp trong thếgiới thực. Một số dựán về những vấn đề ác tính sử dụng đa nhánh nghiên cứu để giải quyết những vấnđề xã hội đa diện dai dẳng, như tội phạm và nghèo, giáo dục, sức khỏe, vệ sinh,nhà ở (Lawrence, 2010). Xuyên ngành thường được sử dụng để nghiên cứu và hỗ trợgiải quyết những vấn đề trong các dự án kết hợp nghiên cứu và hành động về cảitạo nhà bền vững, tính bền vững và thiết kế đô thị, dự báo nhu cầu nước(Bergmann và cộng sự, 2012). Xuyên ngành có cả một nhánh trong đó kết hợpchuyên gia từ nhiều lĩnh vực cùng với các bên tham gia tập trung giải quyết vấnđề cộng đồng để thúc đẩy thay đổi (Stokols, 2006). Những dự án như vậy nhìnchung đòi hỏi phân công lao động trong nhóm, gặp gỡ nhau thảo luận về kết quảvà giải pháp đột phá. Trong khi một số nhà bình luận rất ấn tượng về làm việcnhóm với tính cách là đặc trưng của nghiên cứu xuyên ngành, thì tiếp cận nhómchỉ được sử dụng trong một số trường hợp và không phải là bản chất của xuyênngành. Cái quan trọng với nhà xuyên ngành độc tấu không làm việc nhóm là khảnăng “hợp nhất tri thức của một loạt bộ môn khác nhau và làm việc với các bêntham gia trong quá trình sản xuất tri thức” (Wickson, Carew, & Russell,2006, trang 1052).